3 Hướng điều trị bệnh Gout phổ biến hiện nay

1. TIẾP CẬN TỪ AXIT URIC

Cơ sở lý thuyết:

     Giai đoạn đầu, người ta cho rằng axit uric là thủ phạm trực tiếp gây ra những cơn đau gout cấp tính. Nếu nồng độ axit uric cao sẽ dẫn đến sự bão hoà tinh thể Urate và gây ra cơn đau cấp tính. Do vậy, phương pháp điều trị thường tập trung vào việc ức chế quá trình thoái biến axit uric tại gan và nhanh chóng đào thải axit uric tại thận

Nhóm thuốc phổ biến:

     Nhóm thuốc ức chế tổng hợp axit uric: Nhóm thuốc này tập trung vào ức chế quá trình tổng hợp axit uric từ việc thoái biến purine. Nhóm thuốc tăng thải axit uric: Nhóm thuốc này tập trung vào việc tăng cường đào thải axit uric ra khỏi cơ thể. Các loại thuốc tiêu biểu như Sunfinpyrazol, Benzbriodaron...

Đánh giá:

     Không giải quyết được tận gốc cơn đau: Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng acid uric máu bình thường ở 30% bệnh nhân gút cấp (nguồn: Viện Gout Sài Gòn). Đồng thời, việc tăng axit uric không trực tiếp dẫn đến các cơn đau và biến chứng mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác (nhiệt độ, độ PH…)

      Không đào thải được các tinh thể urate đã lắng đọng: Các biến chứng của bệnh gout phần lớn gây ra bởi tinh thể urate đã lắng đọng trong khớp, trong thận, trong van tim, dưới da. Phương pháp tiếp cận từ axit uric không thể đào thải được những tinh thể này, đây là nhược điểm lớn nhất của phương pháp này.

     Rất nhiều tác dụng phụ: Phương pháp này để lại nhiều tác dụng phụ cho cơ thể như sốt, nôn, buồn nôn, đau đầu, ban đỏ ở da, dị ứng

2. TIẾP CẬN TỪ ĐỘ pH 

Cơ sở lý thuyết

     Trong các điều kiện ảnh hưởng đến sự kết tủa và lắng đọng của muối urate, độ PH trong cơ thể đóng một vai trò quan trọng. Trong đó, độ PH càng cao thì càng chống lại quá trình kết tủa và lắng đọng của muối urate. Đây là cơ sở lý thuyết cho hướng tiếp cận điều trị thứ hai này

Nhóm thuốc phổ biến

     Col chicin: làm giảm sự di chuyển của các bạch cầu, ức chế thực bào các vi tinh thể urat và do đó làm ngừng sự tạo thành acid lactic, giữ cho pH tại chỗ được bình thường vì pH là yếu tố tạo điều kiện cho các tinh thể Monosodium Urat kết tủa tại các mô ở khớp.

     Các loại thực phẩm, nước uống tăng độ kiềm của cơ thể: Các loại thực phẩm như nước dừa xiêm, lá trầu không, lá tía tô, cây nở ngày đất…nói chung có khả năng làm nâng cao độ PH của cơ thể, quá đó ngăn ngừa sự kết tủa của muối Urate.

Đánh giá

     Ưu điểm: Phương pháp trên giúp giảm đau nhanh chóng, nâng cao ngưỡng chịu đựng của bệnh nhân.

     Nhược điểm: Không đào thải được các tinh thể urate đã lắng đọng: Cũng giống như hướng tiếp cận đầu tiên, phương pháp này không thể đào thải được axit uric trong khớp và các cơ quan khác.

      Nhiều tác dụng phụ: Các thuốc tây như trên thườnggây buồn nôn, nôn, đau bụng, dùng lâu dài gây suy gan, suy thận. Với liều cao gây ỉa chảy nặng, chảy máu dạ dày-ruột, nổi ban, tổn thương thận.

3. TIẾP CẬN TỪ TINH THỂ MUỐI URAT

Cở sở lý thuyết

      Cách tiếp cận này sẽ giúp tấn công trực tiếp đào thải những tinh thể Urate đã lắng đọng tại khớp, thận, dưới da, van tim… và các bộ phận khác để loại bỏ nguyên nhân gây đau và biến chứng của bệnh. Hướng điều trị này giúp bệnh nhân có thể ngăn ngừa được các biến chứng do tinh thể muối Urat gây ra, làm giảm các cục Tophi chưa xơ hoá, ngăn ngừa hoặc giảm nhẹ hiện tượng suy thận do biến chứng của gút. Khi đã đào thải được hết lượng tinh thể Urat đã hình thành trước đó, nếu người bệnh kết hợp được với chế độ ăn uống, sinh hoạt để ngăn chặn sự hình thành tinh thể urat mới thì bệnh gút sẽ được kiểm soát toàn diện.

Đánh giá

     Việc hoà tan và đào thải được những tinh thể urate lắng đọng sâu trong khớp, thận và các bộ phận khác đã khắc phục được những nhược điểm của các phương pháp trước, đồng thời giúp ngăn ngừa và giảm thiểu rất nhiều biến chứng do các tinh thể Urate kết tinh gây ra.

     Không để lại tác dụng phụ: Những bài thuốc này có nguồn gốc từ thiên nhiên, được nghiên cứu và hiện đại hoá nên không để lại tác dụng phụ sau khi điều trị

     Người bệnh có thể cảm thấy rất đau khi điều trị: Việc hoà tan và đào thải các tinh thể urate ra khỏi khớp sẽ làm viêm các bao hoạt dịch làm người bệnh sẽ cảm thấy đau đớn, cơn đau sẽ kết thúc khi tinh thể urate đã được đào thải hoàn toàn. Quá trình đào thải axit uric này giúp ngăn chặn hiện tượng khớp và sụn bị phá hủy, đồng thời ngăn ngừa và giảm thiểu các cục tophi, vì vậy trong quá trình uống thuốc sẽ có những người bệnh bị đau tăng (dân gian gọi là công thuốc) đó là hiện tượng cặn urat tan ra làm nồng độ acic uric tăng cao trong máu. Trong giai đoạn này người bệnh nên uống nhiều nước sắc (hoặc nước ép) lá tía tô để tăng đào thải cặn ra khỏi cơ thể và có tác dụng giảm đau chống viêm, giãn mạch, ngăn chặn quá trình nhiễm khuẩn. Người bệnh sẽ dần ổn định sau điều trị từ 1- 3 tháng (phụ thuộc vào sự lắng đọng cặn trên từng bệnh nhân, có những trường hợp bị bệnh lâu năm thì thời gian điều trị 5-6 tháng.)

      Đây là hướng điều trị tiên tiến nhất: Phương pháp điều trị này vừa đào thải được tinh thể urate, đồng thời ngăn chặn được biến chứng do các tinh thể này gây ra, nhưng với chi phí thấp hơn nhiều so với việc phẫu thuật.